Địa danh gốc Tày, Nùng, Thái ở Trung Bộ

                                                        ĐỊA DANH GỐC TÀY, NÙNG, THÁI Ở TRUNG BỘ

                                    Lê Trung Hoa

 

 

             

            Ở các tỉnh phía Bắc Trung Bộ, địa danh gốc Tày, Nùng, Thái tuy không nhiều bằng ở Bắc Bộ, nhưng cũng có một số lượng đáng kể. Trong bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số địa danh tiêu biểu.

Bò Đái là khe trong núi ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Còn có tên Ồ Ồ, vì tiếng nước chảy, ở xa đến 10km vẫn nghe. Bò Đái gốc Tày-Nùng Bó Đảy, nghĩa là “nguồn nước có nhiều cây nứa tép”. Đây là hiện tượng mượn âm vì Bò Đái và Bó Đảy có âm gần giống nhau.

Núi Bu Luông trên dãy Trường Sơn, thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Bu Luông gốc Tày-Nùng. Pu Luông, nghĩa là “núi lớn”.

Núi ở  ranh giới hai huyện Quế Phong (Nghệ An) và Thường Xuân (Thanh Hoá), mang tên Bù Chó, cao 1.563m. Bù Chó gốc Tày, Thái Pũ Chó, nghĩa là “núi mòn”.

Bù Khang là núi ở ranh giới hai huyện Quỳ Châu và Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, cao 1.580m. Bù Khang gốc Tày, Thái Pũ Khang, nghĩa là “núi gang”.

Núi ở chỗ giáp giới hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá mang tên Bù Liệp.  Cũng gọi là Bồ Liệp, Bồ Đằng. Bù Liệp gốc Tày, Thái Pũ Liệp, nghĩa là “núi rau diếp”.

Núi Bù Quan ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, cao 1.000m. Bù Quan gốc Tày, Thái Pù Quan, nghĩa là “núi ông quan”.

Mường Lát là thị trấn và là huyện của tỉnh Thanh Hoá. Mường Lát gốc Mường, Tày, Nùng, nghĩa là “vùng có nhiều cây gỗ lát”.

Xã thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An có tên Mường Nọc. Mường Nọc gốc Tày, Thái, nghĩa là “làng ngoài”.

Làng Mường Tòn ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, nơi có đền Chín Gian để thờ trời. Mường Tòn gốc Thái, nghĩa là “mường gốc” vì có họ Lo Kăm – một họ quý tộc - đến đầu tiên.

là tên vùng ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Nà gốc Tày-Nùng, nghĩa là “ruộng”.

Bản Na Ngân thuộc xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Na Ngân gốc Tày, Thái, nghĩa là “ruộng bạc”.

Bản cũ của xã Tam Đình, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An mang tên Na Phảy.

Na Phảy gốc Tày - Nùng, nghĩa là “tre gai”.

Na Kham là bản cũ của xã Tam Đình, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Na Kham gốc Tày - Nùng, nghĩa là “cây me rừng”.

Phụ lưu Nậm Luông bên phải sông Mã, bắt nguồn từ biên giới Việt-Lào, chảy qua huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nậm Luông gốc Tày-Nùng, nghĩa là “sông lớn”.

Vùng ở xã Yên Hòa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có tên Ngước Đỏn. . Ngước Đỏn gốc Thái, nghĩa là “rồng trắng”.

Noỏng Ao là ao ở xã Kim Đa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Noỏng Ao gốc Thái, nghĩa là “ao (các) chú” vì có người nói rằng nơi đây người Hoa từng đến khai thác vàng.

Bản của xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có tên Noỏng Mo.  Noỏng Mo gốc Thái, nghĩa là “ao nổi” vì trong bản có một  ao lớn, giữa ao này có một vạc đồng thỉnh thoảng nổi lên.

Ao Noỏng Nàng ở xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Noỏng Nàng gốc Tày, Thái, nghĩa là “ao nàng” vì theo truyền thuyết, có một cô gái đẹp, đã có người yêu, nhưng một con rồng si mê đã bắt nàng rồi lặn xuống ao.

Noỏng Vèn là ao ở xã Hữu Dương, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Noỏng Vèn gốc Thái, nghĩa là “ao gương”.

Vực Pảng Mạ ở xã Luân Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pảng Mạ gốc Thái, nghĩa là “tảng đá giống hình con ngựa”.

Bản Pây Nhai, tên cũ của bản Khe Chi, thuộc xã Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pây Nhai gốc Thái, nghĩa là “đi chơi” vì trước đây dân chuyên du canh du cư.

Pha Ngân là núi ở xã Ban Công, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá. Pha Ngân  gốc Thái: Pha: “núi”; Ngân (/Ngữn, Thái): “bạc”.

Lèn (núi đá vôi) ở xã Hữu Khuông, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An mang tên Phả Hộc. Phả Hộc gốc Thái, nghĩa là “lắm cây cỏ”.

Núi Pu Kham ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, cao 1.085m. Pu Kham gốc Tày, Nùng, Thái, nghĩa là “núi có nhiều cây me rừng”.

Núi ở chỗ giáp giới hai huyện Quế Phong (Nghệ An) và Thường Xuân (Thanh Hoá) mang tên Pu Khao, cao 1.000m. Pu Khao gốc Tày, Thái, nghĩa là “núi trắng”.

Pù Boọc Mạy là núi ở xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pù Boọc Mạy gốc Thái, nghĩa là “núi tượng Phật bằng gỗ” vì dáng núi giống tượng Phật.

Núi Pù Ca ở xã Yên Thắng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pù Ca gốc Tày, Thái, nghĩa là “núi quạ”.

Núi ở xã Yên Na, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có tên Pù Cảng. Pù Cảng gốc Tày, Thái, nghĩa là “núi vượn”.

Pù Chàng Phục là núi ở xã Kim Tiến, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pù Chàng Phục gốc Thái, nghĩa là “núi voi phục”.

Núi ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An mang tên Pù Đăm Sàng. Pù Đăm Sàng gốc Thái, nghĩa là “dốc núi bị vạ bởi con voi”.

Núi Pù Mát ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Đây còn là Vườn quốc gia ở trên địa bàn ba huyện: Con Cuông, Tương Dương và An Sơn (tỉnh Nghệ An); diện tích 91.113ha, có độ cao 200-1814m; trong đó đỉnh Pù Mát cao 1.814m, được UNESCO công nhận năm 2000. Hiện có 1.144 loại thực vật, trong đó có 3 loại mới cho khoa học. Kiểu rừng đặc trưng nhất là rừng thường xanh trên đất thấp với ưu thế của các cây họ dầu. Động vật có 3 loại thú đặc hữu Đông Dương: sao la, thỏ sọc Bắc Bộ và vượn má hung. Ngoài ra, còn có mang loại lớn: mang Trường Sơn, voọc chà vá chân nâu, hổ, voi, cầy vằn. Pù Mát gốc Tày, Thái, nghĩa là “những con dốc cao”.

.           Pù Mương là núi ở xã Luân Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pù Mương gốc Thái, nghĩa là “núi mương”.

Núi Pù Noóng Canh ở bản Nhùng, xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pù Noóng Canh gốc Tày-Nùng, nghĩa là “núi anh em giết nhau” vì theo truyền thuyết, vào thời nhà Lý, có hai anh em đánh nhau vì theo hai phe đối đầu nhau.

Núi Pù Thăm ở xã Yên Tĩnh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pù Thăm gốc Tày-Thái, nghĩa là “núi hang”.

Pú Quái là núi ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, nơi có đền Chín Gian để tế trời. Pú Quái gốc Thái, nghĩa là “núi trâu” vì mỗi lần tế lễ người ta thường giết trâu.

Pùng Quảng là đầm nước ở xã Yên Thắng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Pùng Quảng gốc Tày, Thái, nghĩa là “đầm nai” vì nai thường xuống uống nước.

Hang Thăm Hỏn ở xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Thăm Hỏn gốc Thái, nghĩa là “hang con don”.

Ao ở xã Luân Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có tên Thăm Nàng. Thăm Nàng gốc Thái, nghĩa là “hang nàng”.

Thăm Tạo là ao cũng ở xã Luân Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Cũng gọi Thâm Tạo. Thăm Tạo gốc Thái, nghĩa là “hang công tử”.

Bản Thăm Tẩu ở xã Yên Hòa, tỉnh Nghệ An. Thăm Tầu gốc Tày, Thái. Thẳm Tàu, nghĩa là “hang rùa” vì trong hang có nhiều rùa.

Hang ở xã Tam Đình, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An gọi là Thẩm Củng. Thẩm Củng gốc Tày, Thái, nghĩa là “hang tôm”.

Thẩm Hoi là hang ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Thẩm Hoi gốc Tày, Nùng, nghĩa là “hang ốc”.

Hang Thẩm Ồm là di chỉ khảo cổ học ở huyện Quỳ Châu (tỉnh Nghệ An). Năm 1975, người ta khai quật trong hang được nhiều di vật bằng đá, đồng, các xương động vật hóa thạch cách nay 20 vạn năm. Hang có hình dáng đẹp, kỳ thú. Hiện nay hang đang được tu tạo để đón khách du lịch. Thẩm Ồm gốc Thái, nghĩa là “hang lớn”.

Bản Xoóng Con ở xã Tam Thái, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Xoóng Con gốc Tày, Thái, nghĩa là “hai khe”.

Xốp Cốc là bản ở xã Yên Hòa, tỉnh Nghệ An. Xốp Cốc gốc Tày, Thái, Lào, nghĩa là “cửa sông lớn”.

BảnXốp Cớ ở xã Tam Đình, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Xốp Cớ gốc Tày, Thái, Lào, nghĩa là “cửa sông cờ”.

Cửa sông Hội Nguyên ở xã Yên Thắng, tỉnh Nghệ An gọi là Xốp Huống. Cũng gọi Xốp Suống. Xốp Huống gốc Tày, Thái, Lào, nghĩa là “cửa sông hung dữ”.

Xốp Nậm là bản ở xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Xốp Nậm gốc Tày, Thái, Lào, nghĩa là “cửa sông/suối”.

Bản Xốp Phu ở xã Yên Na, huyện Tương Dương. Xốp Phu gốc Tày, Thái, Lào, nghĩa là “cửa sông có nước phun lên”.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1-Lê Trung Hoa (2015), Từ điển địa danh Trung Bộ, Nxb KHXH, Hà Nội.

 

2-Ninh Viết Giao (2003), Địa chí huyện Tương Dương, Nxb KHXH, Hà Nội.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.