Đôi điều về việc sử dụng dấu câu tiếng Việt

 

Tóm tắt

Dấu câu là phương tiện đánh dấu ranh giới giữa các thành phần trong câu giúp cho văn bản mạch lạc, rõ ràng. Việc sử dụng dấu câu hiện nay còn nhiều bất nhất làm ảnh hưởng không ít đến cách viết đúng chính tả tiếng Việt. Cần viết đúng dấu câu để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

 

 (TS. Trần Thanh Nguyện, "Những vấn đề chính tả tiếng Việt hiện nay", 2014, tr. 352-359)

1. Mở đầu

Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong văn bản viết nhằm chỉ ra ranh giới giữa các câu, giữa các vế câu, giữa các thành phần biệt lập, các thành phần ngoài nòng cốt của câu. Ngoài ra, dấu câu còn góp phần biểu đạt nghĩa ngữ dụng, nghĩa tình thái trong câu. Sử dụng dấu câu đúng, thích hợp giúp cho văn bản mạch lạc, dễ hiểu, rõ ràng. Tuy nhiên, việc sử dụng dấu câu tiếng Việt trong các văn bản viết hiện nay vẫn còn nhiều bất nhất, ngay cả trong các sách, báo, tài liệu giáo khoa phổ thông, làm ảnh hưởng không chỉ đến cách hiểu văn bản mà còn cả cách viết đúng chính tả tiếng Việt.

2. Thực trạng sử dụng dấu câu tiếng Việt hiện nay

Hệ thống dấu câu tiếng Việt hiện có 10 loại: dấu chấm (.), dấu phẩy (,), dấu chấm phẩy (;), dấu hỏi (?), dấu cảm (!), dấu ngoặc đơn (( )), dấu ngoặc kép (“ ”), dấu hai chấm (:), dấu gạch ngang (–) và dấu chấm lửng (…). Chức năng và cách dùng của chúng đã được đưa vào giảng dạy từ cấp tiểu học và trong nhiều tài liệu phổ biến về ngữ pháp tiếng Việt. Nhưng vì nhiều lý do mà thực tế vẫn còn những cách ghi khác nhau đối với từng loại dấu. Dưới đây là một số trường hợp người viết ghi nhận được.

Dấu câu có khi được ghi sát với ký tự cuối từ, có khi được ghi cách rời như một ký tự riêng biệt.

Ví dụ:

(1)       Làm văn nghị luận xã hội: Khó hay dễ?

[Báo Giáo dục TPHCM – 26/9/2012]

(2)       Anh (chị) hiểu như thế nào về ý kiến : “Ông có thể có nhiều kẻ đối địch, nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng nào cả” ? [8,95]

Theo cách viết quen thuộc hiện nay, dấu chấm, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, ngoặc kép, dấu chấm lửng được ghi sát với ký tự của từ; các dấu còn lại được ghi cách rời. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp soạn thảo văn bản trên máy tính, những dấu cách rời đứng cuối dòng có khả năng rơi vào đầu dòng sau, trở nên bất hợp lý, thiếu thẩm mỹ.

Có trường hợp dấu câu dùng kèm với liên từ, lại có trường hợp chỉ dùng liên từ mà không dùng dấu câu.

Ví dụ:

(3)       Lời văn trong văn bản giản dị, dễ hiểu, ngắn gọn nhưng diễn đạt nội dung phong phú.[8,99]

(4)       Ông có thể có nhiều kẻ đối địch, nhưng chưa chắc đã có một kẻ thù riêng nào cả.[8,95]

 Ở đây, về lý thuyết mà nói, không thể tồn tại hai yếu tố có cùng một nhiệm vụ – tức là đã có liên từ (nhưng) thì không nên dùng dấu câu (dấu phẩy).

Trong các ví dụ dưới đây, cách viết các từ nằm trong ngoặc đơn cũng chưa được thống nhất:

(5)       Trong văn bản tự sự, đối thoại được thể hiện bằng các gạch đầu dòng ở đầu lời trao và lời đáp (mỗi lượt lời là một lần gạch đầu dòng). [7,78]

(6)       Ngôn ngữ khoa học ở dạng viết của văn bản đó có đặc điểm gì dễ nhận thấy ? (Chú ý hệ thống đề mục từ lớn đến nhỏ, các thuật ngữ khoa học,…). [9,72]

(7)       (gợi ý : từ cảm xúc về thiên nhiên, đất nước dẫn đến suy nghĩ, ước nguyện của tác giả). [7, 57]

(8)       (Gợi ý : Những luận cứ đó được lấy ở đâu, gồm những điều gì?) [8,71]

            Khi sử dụng dấu ngoặc đơn, phần chú thích trong ngoặc đơn có viết hoa chữ cái đầu hay không, trường hợp nào viết hoa, trường hợp nào không viết hoa vẫn là vấn đề chưa được rõ ràng.

            Tình hình cũng tương tự đối với dấu hai chấm. Sau dấu hai chấm, khi thì viết hoa, khi thì không viết hoa như trong các ví dụ dưới đây:

(9)       Chú ý : Các loại văn bản khác nhau có cách ghi khác nhau. [7,125]

(10)     Chú ý : những từ ngữ thể hiện cùng một mức độ tin cậy thì xếp ngang hàng nhau.[7,19]

(11)    Có thể bàn luận vấn đề này theo các định hướng sau : Tình yêu có vai trò như thế nào trong đời sống con người – đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi ? Những quan niệm tích cực và tiêu cực về tình yêu của giới trẻ hiện nay ? [1,70]

(12)    Để triển khai nội dung đó, có thể dựa vào các câu hỏi gợi ý sau : tư tưởng “tôn sư trọng đạo” bắt nguồn từ đâu ? Tư tưởng đó đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận và phát triển như thế nào ? [1,32]

            Nhiều ý kiến cho rằng thông thường nếu phần đứng sau dấu hai chấm, bên trong dấu ngoặc đơn là một ý đầy đủ thì chữ cái đầu phải viết hoa; nhưng trong ngữ liệu khảo sát của chúng tôi rất nhiều trường hợp không phải như vậy. Điều này cũng dễ dàng kiểm chứng ngay trong các tài liệu, sách, báo hiện nay.

            Một thực trạng khác là khi liệt kê các thành phần đồng chức, để biểu đạt ý còn nhiều thành phần khác chưa kể ra, có lúc người viết sử dụng dấu chấm lửng, có lúc lại dùng ký hiệu v.v. (vân vân).

            Ví dụ:

(13)    Bàn về một hiện tượng (vấn đề) đang được xã hội quan tâm (như : vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai,…).[8, 83]

(14)    … đi vào một khía cạnh của đề tài đó (ví dụ: chống nói tục ; “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” ; biết nói “cảm ơn” và “xin lỗi” ; dùng cách nói nhã mà không làm mất đi sự chân thành ; v.v…).[8, 81]

Về vấn đề này, người viết xin được viện dẫn ý kiến của cố Giáo sư Cao Xuân Hạo: “Chấm lửng không thể dùng thay cho v.v. (vân vân). “Vân vân” có nghĩa chính xác là “và những thứ khác cùng loại”, “và những người khác”, “và những con khác”, v.v. Trong khi đó, chấm lửng […] có nghĩa là câu chưa nói hết, hoặc cho biết rằng ở đây có một quãng im lặng, hoặc vì người nói đang phân vân không biết có nên nói tiếp hay không, hoặc vì người nói đang lựa chọn từ ngữ.”[4,79].

Cần thấy rằng ký hiệu v.v. là một từ viết tắt chứ không phải là một cách chấm câu. Như thế, sau v.v. có thể có hoặc không có bất kỳ dấu chấm câu nào, có thể viết hoa hoặc không viết hoa tùy thuộc vào cú pháp của câu sau nó.

Nhân đây, xin được nói thêm về tình trạng hiện nay có nhiều ký hiệu khác được xem là dấu câu được đưa vào sử dụng khá phổ biến trong các văn bản tiếng Việt như: dấu ngoặc vuông ([ ]), dấu gạch sổ (/), dấu gạch nối (-). Ví dụ: giáo dục - đào tạo, ngày 23/11/2012,… Thực chất đây không phải là các dấu câu mà là những ký hiệu thường dùng để viết tắt. Tuy nhiên, không nên lạm dụng các ký hiệu này nhất là trong các trường hợp có thể dùng dấu câu (dấu ngoặc đơn) như trong các ví dụ dưới đây.

(15)     Suy nghĩ của anh/chị về tác hại của rượu, ma túy, thuốc lá đối với con người.[1,19]

(16)     Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình.

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

 [Đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2011]

(17)     Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400) từ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

[Đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2012]

Dấu gạch sổ trái (/) là một ký hiệu tương đương với phép chia (division, quotient) trong Toán học và như vậy không có ý nghĩa trong trường hợp “anh/chị” như ở các ví dụ trên. Nếu viết theo cách “anh\chị” thì dấu gạch sổ phải (\) trong trường hợp này có thể chấp nhận được với ý nghĩa: trừ (minus), nếu không (without) và “anh\chị” có thể được hiểu là “anh hoặc chị”, “anh nếu không chị”. Tuy nhiên, phải khẳng định là hiện nay trong hệ thống dấu câu tiếng Việt, không có dấu gạch sổ trái (/), gạch sổ phải (\); cho nên, ở đây cần dùng dấu ngoặc đơn: anh (chị), không nên sử dụng dấu dấu gạch sổ phải (/) trong các trường hợp như trên.

3. Kết luận

Trong một công trình nghiên cứu cách đây gần 60 năm, tác giả Nguyễn Kim Thản đã đưa ra ví dụ cho thấy câu sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau nếu đặt dấu câu vào các vị trí thích hợp: “Tôi ủng hộ anh ủng hộ hắn thì sao?” [6,614]. Ngôn ngữ cũng như các vật chất khác, giá trị của nó không chỉ tùy thuộc vào bản thân nó mà còn tùy thuộc vào người sử dụng. Bài viết xin được nêu lên một vài hiện tượng như trên với mong muốn tất cả chúng ta, những người sử dụng tiếng Việt, cần nghiêm túc nhìn lại vấn đề để có ý thức tốt hơn trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Lê A – Nguyễn Thị Ngân Hoa (2011), Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội môn Ngữ văn lớp 10, 11, 12, NXB Giáo dục, Hà Nội. 

        2. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

4. Cao Xuân Hạo (chủ biên, 2002), Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

       5. Hoàng Phê (chủ biên, 2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.

6. Nguyễn Kim Thản (1997), Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

7. Ngữ văn 9, tập 2, Nxb Giáo dục, 2011.

8. Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007.

9. Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục, 2011.

 

BÀI VÈ DẤU CÂU

Dấu câu phân biệt các phần,

Người dùng tiếng Việt phải cần nhớ mau:

Dấu chấm đặt ở cuối câu

Tường thuật sự việc có đầu có đuôi.

Dấu phẩy ngăn cách phần lời

Biệt lập, đồng chức, đồng thời liệt kê.

Vì câu ghép có nhiều lời

Nên dùng chấm phẩy tách rời vế câu

Còn dấu hỏi, khó gì đâu

Những điều thắc mắc, thỉnh cầu hỏi ra.

Dấu hai chấm dùng làm sao?

Giải thích lời trước, dẫn vào lời sau.

Dấu cảm dùng ở cuối câu

Vui, buồn, hờn, giận,… khiến cầu điều chi.

Gạch ngang chú thích chứ gì!

Ngoặc đơn cũng để cần thì chú thêm.

Dấu ngoặc kép đặt ở trên

Dẫn lời trực tiếp, hoặc kèm mỉa mai.

Chấm lửng chỗ muốn kéo dài,

Ngập ngừng, ẩn ý không hoài nói ra.

Không còn dấu khác đâu nha!

Mua vui xin góp vài ba lời vè.

(Trần Thanh Nguyện)

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.